Home Tin tức Tin kế toán
Tin tức kế toán mới nhất cập nhật liên tục 24/24...

0 1051

Vì một lý do nào đó mà doanh nghiệp bạn không thể tiếp tục hoạt động trong thời gian tới, bạn muốn xin tạm ngừng hoạt động một thời gian. Vậy thủ tục này cần phải làm những gì? Kế toán 365 Thăng Long xin đưa ra một số chỉ dẫn hy vọng sẽ giúp bạn được phần nào…

Theo Điều 156 luật doanh nghiệp và Điều 43 Nghị định của Chính phủ số 88 ngày 28/9/2006 quy định “doanh nghiệp có quyền tạm ngưng hoạt động kinh doanh nhưng phải thông báo bằng văn bản thời điểm và thời hạn tạm ngừng hoặc tiếp tục kinh doanh cho cơ quan đăng ký kinh doanh và cơ quan thuế chậm nhất mười lăm ngày trước ngày tạm ngừng hoặc tiếp tục kinh doanh”. Thơig gian ngừng hoạt động kinh doanh không được quá 1 năm, hết thời hạn xin tạm ngừng kinh doanh nếu muốn tiếp tục tạm ngừng phải làm tiếp văn bản xin tạm ngừng kinh doanh trong năm tiếp theo. Xin lưu ý là tổng thời gian tạm ngừng kinh doanh liên tiếp không được quá 2 năm.

Nếu doanh nghiệp bạn mà ngừng hoạt động sản xuất kinh doanh nhưng không thông báo với sở kế hoạch đầu tư và chi cục thuế chủ quản (hoặc tạm ngừng hoạt động quá 2 năm liên tiếp) rất có thể doanh nghiệp bạn sẽ bị phạt. Theo Điều 165 Xử lý vi phạm Luật doanh nghiệp quy định: “Doanh nghiệp bị thu hồi Giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh và bị xoá tên trong sổ đăng ký kinh doanh trong các trường hợp sau đây:

– Không báo cáo về hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp với cơ quan đăng ký kinh doanh trong mười hai tháng liên tục.
– Ngừng hoạt động kinh doanh một năm liên tục mà không thông báo với cơ quan đăng ký kinh doanh”

Về thủ tục xin tạm ngừng hoạt động bạn phải chuẩn bị những giấy tờ và thủ tục sau:

1. Tên, địa chỉ trụ sở chính, số và ngày cấp Giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh của doanh nghiệp.
2. Ngành, nghề kinh doanh.
3. Thời hạn tạm ngừng kinh doanh, ngày bắt đầu và ngày kết thúc thời hạn tạm ngừng. Thời hạn tạm ngừng kinh doanh ghi trong thông báo không được quá 1 (một) năm. Sau khi hết thời hạn đã thông báo, nếu doanh nghiệp vẫn tiếp tục tạm ngừng kinh doanh thì phải thông báo tiếp cho Phòng Đăng ký kinh doanh. Tổng thời gian tạm ngừng kinh doanh không được quá 2 (hai) năm.
4. Lý do tạm ngừng kinh doanh.
5. Họ, tên, chữ ký của người đại diện theo pháp luật của doanh nghiệp.

Kèm theo thông báo phải có quyết định và biên bản họp của Hội đồng thành viên đối với công ty trách nhiệm hữu hạn hai thành viên trở lên, của chủ sở hữu công ty đối với công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên, của Đại hội đồng cổ đông đối với công ty cổ phần, của các thành viên hợp danh đối với công ty hợp danh.

Phòng Đăng ký kinh doanh nhận thông báo và ghi vào sổ theo dõi.

Kế toán 365 tổng hợp

0 627

Thứ trưởng Bộ Tài chính Đỗ Hoàng Anh Tuấn đã khẳng định sẽ bỏ tiêu chí “Địa chỉ người bán, mua hàng” trên hóa đơn.
Theo kiến nghị của người dân, tiêu chí nói trên không còn cần thiết vì trên tờ hóa đơn đã có tên và mã số thuế của doanh nghiệp. Các cơ quan quản lý và đơn vị liên quan có thể dễ dàng tra cứu địa chỉ doanh nghiệp.

Người dân này cho hay, tiêu chí này làm mất rất nhiều thời gian của doanh nghiệp khi viết một tờ hóa đơn, nhất là các doanh nghiệp có địa chỉ dài. Ví dụ, doanh nghiệp có địa chỉ Phòng X, Căn hộ Y, Chung cư Z, Lô A, Khu dân cư B, Số D, Đường…, Phường…, Quận…, Thành phố…

Việc kê khai như thế rất dễ xảy ra sai sót, dẫn đến chỉnh sửa, phiền hà cho doanh nghiệp.

Trong nội dung trả lời người dân mới đây, tiếp thu đề nghị này, Thứ trưởng Bộ Tài chính Đỗ Hoàng Anh Tuấn cho rằng, việc bỏ tiêu chí “Địa chỉ người bán, mua hàng” trên hóa đơn là rất đúng và thỏa đáng, sẽ giúp người nộp thuế giảm thiểu thời gian thực hiện nghĩa vụ thuế với Nhà nước.

Thứ trưởng cho biết, trong nội dung sửa Thông tư về hóa đơn, Bộ Tài chính sẽ sửa đổi, bổ sung một số quy định còn gây phiền hà cho doanh nghiệp và bỏ tiêu chí “Địa chỉ người bán, mua hàng”.

Theo Báo Hải quan

0 671

Sai xót trong công tác làm nghiệp vụ kế toán không thể tránh khỏi, điều này bất cứ  kế toán viên nào cũng hiều được. Xong để giảm thiểu những sai xót đó thì không phải ai cũng làm được. Dân làm kế toán luôn luôn bận rộn căng thảng, chính vì điều đó chỉ cần một phút lơ đễnh, mất tập trung thì điều gì cũng có thể sảy ra. Dưới đây là những sai sót nho nhỏ cần tránh khi thực hiện tác nghiệp hoặc hoàn thiện các thủ tục chứng từ kế toán.

Khi mua hoá đơn :

Giấy giới thiệu (GGT)

Không ghi rõ đến cơ quan thuế để mua hoá đơn (chỉ ghi chung chung đến liên hệ công tác…)

Các chỉ tiêu như số giấy giới thiệu, ngày, họ tên và chức vụ người được cử đi, tên chữ ký của người Đại hiện pháp luật, đóng đấu …… không rõ ràng. Nhân viên đến mua hoá đơn :

Không mang theo CMND.

Khi gần hết giờ hành chánh mới đến liên hệ mua hoá đơn .

Cử người không hiểu biết về hoá đơn chứng từ (như bảo vệ, tạp vụ, nhân viên trực điện thoại…) đi mua hoá đơn .
Không đem theo Phiếu theo dõi tình hình cấp phát hóa đơn .

Không lập báo cáo tình hình sử dụng hóa đơn ở ký gần nhất .

Chưa chuẩn bị con dấu khắc Tên Doanh nghiệp , Mã số thuế để đóng trên liên 2 Sử dụng hoá đơn.

Khi mua hàng :

Không nhận hoá đơn tại nơi xuất hàng mà nhận hoá đơn do người bán đem đến -> dễ bị nhận hoá đơn giả.

Khi xuất hàng :

Không xuất hoá đơn GTGT đối với Hàng hóa Xuất khẩu.

Không xuất hoá đơn đối với doanh thu hàng uỷ thác xuất khẩu.

Không lót giấy carbon giữa các liên.

Thiếu chữ ký người mua trên hoá đơn.

Không ghi thuế suất thuế GTGT . Báo cáo sử dụng hoá đơn : Không lập báo cáo sử dụng hoá đơn theo định kỳ.( Tháng , Quý , Năm ) Các bảng kê hoá đơn bán ra, mua vào

Ghi không đầy đủ cột mục theo qui định.

Cột ngày chứng từ ghi không theo đúng định dạng 30/01/2002 (ghi sai là 01/30/2002 hoặc 30-Jan-02, 2002-01-30 v.v..)

Trong bảng kê HHDV bán ra không ghi đúng thứ tự số hoá đơn đã sử dụng, không kê hoá đơn đã huỹ vào bảng kê, đồng thời cũng dễ bị kê khai trùng nhiều lần cho cùng một hoá đơn.

Không lập bảng kê riêng đối với hàng hoá bán ra không chịu thuế GTGT (như hàng đại lý bán đúng giá)

Trong bảng kê hoá đơn mua vào không lập bảng kê riêng đối với những hàng hoá dịch vụ phục vụ cho sản xuất, hàng không chịu thuế GTGT.

Kê khai thuế :

Kê khai thuế GTGT hàng tháng

Thiếu chỉ tiêu 5 (dòng thuế GTGT được khấu trừ)

Nhầm lẫn giữa các dòng làm sai lệch nội dung của tờ khai.

Nhân viên kế toán làm cho nhiều công ty khác nhau, khi lập tờ khai bằng máy tính quên thay đổi mã số thuế, tên công ty, địa chỉ …. của công ty.

Gộp doanh thu và thuế đầu ra của nhiều thuế suất ghi chung vào một dòng

Không tính gộp cả doanh thu của HHDV không chịu thuế GTGT vào chỉ tiêu 1.

Cấn trừ số thuế phát sinh âm kỳ này với nợ thuế GTGT chưa nộp của kỳ trước.

Tính vào số thuế GTGT đầu vào đối với hàng hoá nhập khẩu theo thông báo của Hải Quan, trong khi chưa nộp thuế GTGT hàng nhập khẩu đó.

Kê khai khấu trừ 3% đối với hàng hoá không thuộc diện chịu thuế GTGT, hoặc hàng hoá thuộc đối tượng chịu thuế tiêu thụ đặc biệt nhưng mua về không phải để bán ra.

Không tách riêng bảng kê Hàng hóa dịch vụ mua vào có hóa đơn bán hàng được khấu trừ tỷ lệ 3% . Kê khai thuế thu nhập cá nhân hàng tháng đã chặn trừ tại nguồn :

Hàng tháng đã chặn trừ thuế thu nhập của người lao động nhưng chiếm dụng không kê khai và nộp vào ngân sách kịp thời đúng theo qui định của pháp lệnh thuế thu nhập.

Những đơn vị có nộp thuế thu nhập cá nhân của người nước ngoài, không lập riêng tờ khai hoặc đã kê khai lẫn lôn giữa người Việt Nam với người nước ngoài.

 Kê khai thuế Thu nhập doanh nghiệp hàng năm :

Không chủ động kê khai đúng thời gian theo qui định của Luật thuế, bị cơ quan thuế nhắc nhở, xử phạt hành chính.
Đơn vị tính: Nội dung số liệu không tương ứng với đơn vị tính đã ghi bên trên biểu mẫu.

Không ghi đầy đủ các khoản chi phí theo đúng mẫu qui định.

 Quyết toán thuế GTGT năm

Dòng thuế phải nộp ghi tổng số thuế đầu ra, và dòng thuế đã nộp ghi tổng thuế GTGT đầu vào.

Dòng thuế đã nộp năm quyết toán : Ghi sai là số đã nộp cho năm báo cáo (bao gồm cả thuế đã nộp vào tháng 1 năm sau nộp cho tháng 12 năm trước). Đúng ra là số đã thực nộp trong năm báo cáo (bao gồm những chứng từ nộp từ ngày 1/1 đến 31/12 của năm báo cáo, không phân biệt nộp cho năm báo cáo hay truy nộp cho các năm trước).

Hồ sơ báo cáo quyết toán thuế :

Không thiết lập đầy đủ hồ sơ về tài sản cố định, mua sắm TSCĐ không có hoá đơn hợp lệ. – Thiếu bảng đăng ký tiền lương; hạch toán chi phí tiền lương nhưng thiếu hợp đồng lao động; bảng lương không có người ký nhận.

Thiếu bảng kê hồ sơ quyết toán thuế (liệt kê danh sách hồ sơ đính kèm theo nhằm tránh thất lạc).

Doanh nghiệp được thụ hưởng chế độ miễn giảm do ưu đãi đầu tư nhưng quên hoặc không biết cách hạch toán và báo cáo quyết toán với cơ quan thuế; hoặc chờ cơ quan thuế đến kiểm tra để xác định số thuế được miễn giảm.

Nộp thuế :

Ghi nhầm tên người nộp là tên cá nhân đi nộp tiền ( Phải ghi tên pháp nhân Doanh nghiệp ).

Không nắm rõ các qui định về thời hạn nộp thuế của từng sắc thuế để chủ động nộp trước ngày hết hạn, bị cơ quan thuế nhắc nộp và bị phạt nộp chậm.

Giấy nộp tiền vào ngân sách nhà nước : Không ghi rõ tài khoản của cơ quan thuế trên giấy nộp tiền, thiếu quan tâm ý nghĩa của những mã hiệu mục lục ngân sách nhà nước có liên quan (cấp, chương, loại, khoản, muc, tiểu mục) để ghi cho đúng.
Khi phát sinh khoản phải nộp (không thuộc các loại thuế thông thường) đã không lập tờ khai nộp cho cơ quan thuế.

Hạch toán kế toán:

Ngay sau khi lập đề nghị hoàn thuế GTGT, doanh nghiệp đã không hạch toán làm giảm số dư nợ, không hạch toán đồng thời vào tài khoản phải thu phải trã, mà vẫn để số thuế nầy được tiếp tục khấu trừ cho kỳ sau.

Ngay sau khi nhận được quyết định xử lý, xử phạt… của cơ quan thuế, doanh nghiệp không thực hiện hạch toán ngay vào sổ sách kế toán hiện hành, làm số dư các tài khoản thanh toán với ngân sách khác biệt với sôÌ� liêÌ£u của cơ quan thuế.

Sổ sách kế toán áp dụng máy vi tính : Định kỳ hàng tháng không in ra toàn bộ sổ sách phát sinh; sổ đã in ra không có số trang, không có giám đốc và kế toán trưởng ký; không tự đóng dấu giáp lai.

Đăng ký thuế:

Thay đổi kế toán trưởng, địa chỉ kinh doanh , tài khoản và ngân hàng , điện thoại, fax, e-mail…. không đăng ký với cơ quan thuế.

Hoàn thuế GTGT

Hồ sơ chứng minh hàng xuất khẩu :

Không thuyết minh sự sai biệt giữa hoá đơn và tờ khai Hải quan; giữa hoá đơn và chứng từ thanh toán.

Thiếu chứng từ thanh toán hợp pháp đối với hàng xuất khẩu .

Không có xác nhận của Hải quan tại ô 47 của tờ khai Hải quan .

Văn thư đề nghị hoàn thuế (mẫu 10/GTGT) không xác định mình thuộc đối tượng cụ thể nào được hoàn thuế (xuất khẩu hay âm luỹ kế 3 tháng v.v…).

Bảng kê khai tổng hợp số thuế phát sinh đề nghị hoàn không khớp với số thuế GTGT đã kê khai hàng tháng (phải điều chỉnh lại số liệu đã kê khai nhầm trước khi lập hồ sơ hoàn thuế).

Phó giám đốc hoặc người được uỷ quyền ký tên vào văn thư đề nghị hoàn thuế GTGT không được xem là hợp lệ.

Tài khoản đề nghị chuyển số tiền thuế GTGT được hoàn không đúng với số hiệu tài khoản và tên ngân hàng đã đăng ký thuế.

Ketoanhanoi Sưu tầm

0 673

Kế toán ngân hàng  là một loại hình kế toán trong ngân hàng thực hiện việc ghi chép, phân loại, tổng hợp và giải thích các nghiệp vụ tác động đến tình hình tài chính của các ngân hàng bằng thước đo tiền tệ nhằm cung cấp thông tin về tình hình và kết quả hoạt động của ngân hàng, làm cơ sở cho việc ra quyết định kinh tế liên quan đến mục tiêu quản lý kinh doanh và đánh giá hoạt động của ngân hàng.

Hệ thống kế toán ngân hàng Việt Nam chính thức ra đời năm 1951. Hệ thống kế toán ngân hàng giống với hệ thống kế toán tài chính doanh nghiệp ở nguyên tắc, nội dung và phương pháp hạch toán theo các chuẩn mực kế toán và Luật kế toán đã ban hành.

Kế toán ngân hàng cũng tuân thủ những nguyên tắc kế toán cơ bản, bao gồm cơ sở dồn tích, hoạt động liên tục, giá gốc, phù hợp, nhất quán, thận trọng, trọng yếu. Về nguyên tắc hạch toán, hệ thống kế toán cũng sử dụng phương pháp ghi Nợ – Có để phản ánh các nghiệp vụ kinh tế phát sinh; sử dụng kết cấu tài khoản chữ T; nguyên tắc ghi Nợ trước, Có sau, Nợ – Có cân bằng nhau; xác định tính số dư trên các TK tài sản và nguồn vốn, nguồn vốn nợ phải trả và vốn chủ sở hữu; nguyên tắc phản ánh các nghiệp vụ kinh tế vào tài khoản tài sản và tài khoản nguồn vốn.

Về phương pháp luân chuyển chứng từ, hệ thống kế toán ngân hàng tuân thủ theo hai loại chứng từ: chứng từ bắt buộc và chứng từ hướng dẫn và tuân thủ theo các bước: lập chứng từ, kiểm tra chứng từ, xử lý, ghi sổ, lưu trữ chứng từ. Tổ chức bộ máy kế toán cũng theo ba hình thức (phân tán, tập trung, vừa tập trung vừa phân tán)

Về hình thức kế toán áp dụng,kế toán ngân hàng cũng bao gồm kế toán chi tiết và kế toán tổng hợp theo năm hình thức: Nhật ký Sổ Cái, Nhật ký chứng từ, Chứng từ Ghi sổ, Sổ nhật kí chung, hình thức ghi bằng máy tính. Tuy nhiên, hệ thống ngân hàng thường sử dụng chứng từ ghi sổ.
Về hệ thống báo cáo, bao gồm: Bảng cân đối kế toán, Báo cáo kết quả kinh doanh, Lưu chuyển tiền tệ, Thuyết minh BCTC.

Tuy nhiên, kế toán ngân hàng đã có sự khác biệt về số hiệu trong hệ thống TK so với hệ thống tài khoản của kế toán tài chính DN. Sự khác biệt này dẫn đến việc xác định kết quả kinh doanh của kế toán tài chính DN và kế toán ngân hàng cũng khác nhau, có thể thấy rõ trên sơ đồ kết quả kinh doanh của ngân hàng và DN khác.

Theo greensoft